Khoa Ngữ Văn
  
Tin Tức
Vĩnh biệt Giáo sư - Nhà giáo Nhân dân Hoàng Như Mai (Trần Hữu Tá) PDF. In Email
Thứ hai, 30 Tháng 9 2013 08:51

 

 

Giáo sư – Nhà giáo Nhân dân Hoàng Như Mai vừa qua đời lúc 15g20 hôm nay 27-9, hưởng thọ 95 tuổi.

Thông tin từ phía gia đình Giáo sư – Nhà giáo Nhân dân Hoàng Như Mai cho biết Giáo sư – Nhà giáo Nhân dân  Hoàng Như Mai qua đời vào ngày 27-9. Trước đó ông gặp tai nạn và được điều trị tại bệnh viện 175 TP.HCM.

Chúng tôi sẽ tiếp tục cập nhật thông tin về tang lễ của Giáo sư – Nhà giáo Nhân dân Hoàng Như Mai.

 

NGND Hoàng Như Mai. Ảnh do trường ĐH Văn Hiến cung cấp

PGS-TS Trần Hữu Tá gửi đến Tuổi Trẻ bài viết về Giáo sư – Nhà giáo Nhân dân Hoàng Như Mai. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Mấy hôm nay điện thoại của tôi như bị nóng lên vì những cuộc gọi liên tiếp của nhiều đồng nghiệp trẻ cũng như già. Các bạn dồn dập hỏi tôi, đầy vẻ quan tâm và lo lắng về tình hình sức khỏe của GS Hoàng Như Mai. Những lúc này càng thấy rõ thầy được người trong giáo giới quý mến đến mức nào. Tiếc thay, thầy đã vĩnh biệt chúng tôi.

Ngẫm ra, trong ngành giáo dục tưởng như thanh nhàn nhưng gian khổ, những vị đạt đến tuổi 95 là hiếm lắm. Càng hiếm và quí hơn khi đến ngưỡng ấy vẫn tỉnh táo tinh anh, vẫn lặng lẽ đóng góp tích cực cho sự nghiệp trồng người. Giáo sư – Nhà giáo nhân dân Hoàng Như Mai thuộc diện đặc biệt ấy.

Hơn 20 năm nay ,thầy đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học TP.HCM - 1 tổ chức thân thiết với giới giảng dạy và nghiên cứu văn học không chỉ ở thành phố lớn nhất nước. Thầy giữ vai trò chỉ đạo trường THPT Trương Vĩnh Ký – một trong những đơn vị giáo dục có uy tín từ 1997 đến năm 2010 và vẫn tham gia đào tạo trí thức cao cấp (thạc sĩ, tiến sĩ) cho ngành.

Nhắc đến những cống hiến rất quí của thầy cho ngành giáo dục có nghĩa là phải lược kể đến chặng đường đằng đẵng hơn hai phần ba thế kỷ. Thầy bắt đầu đứng trên bục giảng từ năm 1943, ở trường Trung học tư thục Đông Hải (Hải Dương). Việc nhận lên lớp rất tình cờ và có phần ngẫu hứng lúc thầy đang là sinh viên Đại học Luật khoa Đông Dương, thể theo lời mời của một người bạn.

Tưởng rằng việc này chỉ mang tính nhất thời, giúp bạn “chữa cháy”, không ngờ đó là cái duyên, khiến thầy gắn bó với nghề cao quí này cả một đời người. Từ những năm đó trở đi, đất nước ta trải qua biết bao biến động dữ dội.

Cũng như nhiều nhà trí thức chân chính khác, GS Hoàng Như Mai – xuất thân trong một gia đình quan lại cao cấp – đã đứng vững, vượt qua mọi thử thách khắc nghiệt của tình thế. Hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, được tỉnh bộ Việt Minh tỉnh Thái Bình mời làm Hiệu trưởng trường trung học Phan Thanh, thầy đã cùng các giáo sư, văn nghệ sĩ nổi tiếng như Nguyễn Tường Phượng, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng,… bình tĩnh giảng dạy trong vòng vây ngày càng thắt chặt của giặc Pháp.

Năm 1950, thầy cùng các đồng nghiệp chấp nhận cảnh ăn đói mặc rét, xây dựng thành công một trong vài ba cỗ máy cái của ngành Giáo dục lúc đó: trường Sư phạm Việt Bắc. Cứ thế, bất chấp mọi thách thức, thầy đã lần lượt hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình – lúc trên bục giảng, khi trong cương vị lãnh đạo – ở trường Sư phạm trung cấp trung ương, Đại học Tổng hợp  Hà Nội, Đại học Tổng hợp (sau tách ra là ĐHKHXHNV) Tp. Hồ Chí Minh.

Làm việc với Giáo sư đã hơn 50 năm, tôi hơn 1 lần tự hỏi: động lực nào khiến thầy có thể chủ động vững bước trên đường đời? Và tôi đã hiểu.

Trước hết, đó là lý tưởng sống rất rạch ròi, như thầy đã tâm sự khi tạm biệt thủ đô, cùng khoa Ngữ văn trường ĐHTH Hà Nội sơ tán lên vùng núi rừng Thái Nguyên heo hút 46 năm trước:

Ra đi lần nữa biệt kinh thành

Mái tóc mười phần chín hết xanh

Trách nhiệm – gia đình: đôi gánh nặng

Văn chương nghệ thuật: sợi tơ mành

Hai mươi năm trước dân không nước!

Hai chục năm sau biết có mình?

Đã quyết đem thân phò nghĩa cả

Niềm riêng chạnh nghĩ luống buồn tênh.

Có nhiều điều đáng ngẫm về bài thơ rất hàm súc này. Tôi chỉ xin nhấn mạnh một điều: với những ai từng chịu đựng cảnh ngộ “dân không nước”, lòng yêu nước ấy sâu sắc lắm. Chính vì vậy họ quyết không chấp nhận tình trạng lại phải mang nỗi nhục mất nước. Chính vì thế, có thể vẫn còn buồn về cái “niềm riêng” nhưng thái độ sống của thầy thật dứt khoát: “quyết đem thân phò nghĩa cả”.

Tôi lại nghĩ nhiều đến bản chất nhân hậu của Giáo sư. Trong các mối quan hệ với bè bạn, đồng nghiệp và học trò, thầy luôn đối xử rất có tình. Vì vậy các thế hệ học trò phục thầy về tài năng, nhưng quan trọng hơn, rất quí trọng thầy về đức độ.

Còn nhớ, những năm kháng chiến chống Mỹ, nhiều sinh viên khoa Ngữ văn lên đường vào Nam. Chuyện “đi B” lúc bấy giờ được tổ chức hết sức bí mật. Người ra đi hạn chế tối đa việc tiếp xúc, gặp gỡ người thân. Vậy mà nhiều người trước khi vượt Trường Sơn vẫn tìm mọi cách gặp thầy để nói lời tạm biệt và để được nhận những lời dặn dò ân cần của người thầy khả kính.

Tháng 10-1986, Khoa Ngữ văn ĐHTH Hà Nội mời thầy về dự lễ kỉ niệm 30 năm thành lập khoa. Vui đoàn tụ đấy, nhưng trước sự thiếu vắng nhiều khuôn mặt thân quen, thầy đã có những dòng thơ trĩu nặng tình cảm:

Thầy cô người mất người còn

Sinh viên mấy nấm mồ chôn chiến trường

Ba mươi năm một chặng đường

Về đây có cả buồn thương vui mừng.

Nguyện xin đốt nén hương chung,

Những ai đã khuất hãy cùng lại đây.

Thầy còn nêu gương sáng về tinh thần tự học. Thế hệ của thầy - như các giáo sư Huỳnh Lý, L Trí Viễn, Đỗ Đức Hiểu, Trương Chính, Đinh Gia Khánh, Vũ Khiu…sở dĩ đã hoàn thành xuất sắc những nhiệm vụ quá sức mình, chủ yếu là do không ngừng học tập, nghiên cứu. Cho nên hơn sáu thập kỷ đứng trên bục giảng cũng là ngần ấy năm thầy gắn bó với bàn viết.

Chỉ có điều, khác với nhiều đồng nghiệp, thầy không chỉ viết nghiên cứu phê bình mà còn sáng tác thơ, văn, kịch. Hai con người nghiên cứu và sáng tác thường thì tách bạch, rạch ròi nhưng ở thầy lại có sự hòa hợp, bổ sung tích cực cho nhau. Nhiều bài thơ, kịch bản của thầy ẩn chứa một chiều sâu văn hóa, một tầm suy tư triết lý. Ngược lại, nhiều bài nghiên cứu văn hóa, văn học của thầy lại thể hiện tính phóng khoáng, không hàn lâm kinh viện.

Bộ giáo trình Văn học VN hiện đại (1945-1960) có một giá trị rất riêng: đây là công trình đầu tiên mang tính đột phá, nghiên cứu về một chặng đường văn học còn nóng hổi tươi nguyên đối với thời kỳ đó. Các tập chuyên luận, tiểu luận về thơ (Thơ một thời, Bản sắc dân tộc trong thơ Hồ Chí Minh), về sân khấu (Nhận định về cải lương, Trần Hữu Trang – soạn giả cải lương) đến nay vẫn có ích cho giới nghiên cứu.

Những tác phẩm Tiếng trống Hà Nội, Dòng sông biên giới, Vẽ chân dung cụ Đồ Chiểu là những đóng góp có giá trị của thầy cho sân khấu kịch nói.

Thơ, với thầy, là một thú vui tao nhã, một mảnh vườn riêng tĩnh lặng, chủ yếu để thầm thì tâm sự với chính mình, hoặc để “đối diện đàm tâm” với người tri kỉ. Tập Trao cho nhau cuộc đời (1993) gồm 52 bài thơ, thực ra chỉ chiếm 1 tỉ lệ nhỏ trong toàn bộ sáng tác thơ của thầy. Cũng như người, tình cảm trong thơ của thầy đôn hậu, chân thành, giọng thơ nặng chất tâm sự, trong sáng mà đằm sâu.

Là trí thức tân học nhưng thầy chịu ảnh hưởng không nhỏ các nhà hiền triết phương Đông. Vẫn ấp ủ một tâm sự sâu kín, đôi lúc phảng phất nét ưu tư trăn trở đấy, nhưng nhà thơ luôn xác định một thái độ sống cao thượng, như khi nhớ đến hai người bạn (GS Chu Thiên, GS  Đặng Huy Vận) đã quá cố:

Chúng ta trí thức đi theo Đảng

Nào có khi nào tính thiệt hơn

Việc làm ngay thẳng lòng trong sáng

Sống giản đơn và chết giản đơn.

Tuổi càng cao, thầy càng giữ được phong cách sống an nhiên tự tại, luôn bình thản ung dung. Mười lăm năm trước, khi bước vào tuổi 80, thầy tâm sự:

Cuộc đời vinh nhục vui buồn

Sắc – không, không – sắc há còn vấn vương

Bao giờ đến lượt lên đường

Thì như một chiếc lá vàng gió bay.

Lúc ấy chúng tôi nghĩ khác. Có căn cứ để tin, chiếc lá vàng kia vẫn gắn chặt lắm với cây đời dồi dào nhựa sống, vẫn góp phần làm đẹp cho đời – đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục – bằng những hoạt động thầm lặng với chất lượng cao.

Lòng tin ấy được xác quyết trong suốt 15 năm. Những tưởng thầy sẽ có tuổi thọ sánh ngang cùng GS Giản Chi, Trần Văn Giàu, Vũ Đình Hòe... nghĩa là đạt đỉnh “bách tuế”. Thế nhưng hôm nay thầy đã vội đi, để lại cho bao thế hệ học trò sự trống vắng và lòng tiếc thương sâu sắc.

Xin vĩnh biệt thầy, GS-NGND Hoàng Như Mai kính mến!

TRẦN HỮU TÁ

Giáo sư - Nhà giáo Nhân dân Hoàng Như Mai sinh ngày 3 tháng 8 năm Kỷ Mùi ( 26 tháng 9 năm 1919) tại phủ Lạng Thương, tỉnh Bắc Giang. Quê quán: thôn Nội Am, xã Liên Ninh, huyện Thanh Trì, Hà Nội.

- Học sinh trường Bưởi Hà Nội

- Học Đại học Y khoa và Đại học Luật trước Cách mạng tháng Tám

- Hiệu trưởng trường Tư thục Phan Thanh, Thái Bình (1948)

- Hiệu trưởng trường Sư phạm Việt Bắc (1951)

- Hiệu trưởng trường Sư phạm trung cấp trung ương (1953).

- Cán bộ giảng dạy trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (1959)

-  Cán bộ giảng dạy  trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (1980)

- Hiệu trưởng trường Trung học phổ thông Trương Vĩnh Ký (1997đến nay)

- Chủ tịch Hội nghiên cứu và giảng dạy Văn học Thành phố (từ 1988 đến nay)

- Được Nhà nước phong chức danh Giáo sư (1982)

- Được phong danh hiệu Nhà giáo Nhân dân (1990)

- Được tặng Huân chương lao động hạng Nhất

* Các tác phẩm, công trình tiêu biểu:

Sáng tác:

-         Tiếng trống Hà Hồi (kịch, 1948)

-         Dòng sông biên giới (kịch, viết 1957, xuất bản 2001)

-         Vẽ chân dung cụ Đồ Chiểu (kịch, viết 1982, xuất bản 2001).

-         Trao cho nhau cuộc đời (thơ, 1993)

* Nghiên cứu:

-         Văn học Việt Nam hiện đại (Nxb. Giáo dục, 1961)

-         Trần Hữu Trang – soạn giả ca kịch cải lương (1982)

-         Nhà soạn kịch cải lương Trần Hữu Trang (1986)

-         Nhận định về cải lương (1986)

-         Giới thiệu sân khấu cải lương (1986)

-         Thơ một thời (1989)

-         Hoàng Như Mai tuyển tập (Nxb Giáo dục, 2005)

Nguồn: http://tuoitre.vn/Giao-duc/571307/vinh-biet-giao-su-nha-giao-nhan-dan-hoang-nhu-mai.html#ad-image-1

 
HỘI NGHỊ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC KHOA NGỮ VĂN NĂM HỌC 2013 -2014 PDF. In Email
Thứ ba, 24 Tháng 9 2013 22:24

 

Vào lúc 9 giờ 00 ngày 23 tháng 9 năm 2013, Khoa Ngữ Văn  đã tổ chức Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức năm học 2013 – 2014. Tham dự hội nghị, ngoài tập thể cán bộ, công chức, viên chức của khoa, còn có đại diện Ban chấp hành Công đoàn Trường. Hội nghị đã được nghe báo cáo tổng kết năm học 2012-2013 và bản phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm năm học 2013-2014 của Trường và của Khoa. Nhiều vấn đề về đào tạo đại học và sau đại học được hội nghị thảo luận sôi nổi với mong muốn ngày càng nâng cao hơn nữa hiệu quả dạy và học của Khoa. Ngoài ra, Hội nghị cũng thông qua danh sách tham dự Hội nghị cán bộ, công chức, viên chức năm học 2013 – 2014 Trường gồm 9 đại biểu.

Hội nghị kết thúc lúc 11 giờ 45 phút cùng ngày.

A.T ghi.

 
Trần thuật học như là khoa học phân tích diễn ngôn trần thuật (phần 2- V.I. Chiupa- Lã Nguyên dịch) PDF. In Email
Chủ nhật, 22 Tháng 9 2013 20:45

 

Adam nommant les animaux, Manolis Grigoreas, 1990

II. Chiến lược giao tiếp

Muốn phác hoạ phạm vi thể loại trong nghiên cứu trần thuật học, chúng ta phải dựa vào các chiến lược giao tiếp cơ bản của diễn ngôn trần thuật, những chiến lược này là cơ sở tạo nên sự đa dạng thể loại không chỉ riêng đối với văn học nghệ thuật.

Trong phạm vi những công trình nghiên cứu nhân văn học thuộc hệ hình khoa học hiện đại, hướng tiếp cận hiệu quả nhất là cách nghiên cứu “các thể loại lời nói” của M. Bakhtin. Hướng tiếp cận này phân chia rạch ròi các “thể loại gốc (các loại hình đối thoại khẩu ngữ cụ thể)” (5, 166) và các “thể loại thứ sinh (tư tưởng hệ)” (5, 161) như những hình thức “tổ chức chỉnh thể lời nói, sự hoàn kết của nó và tính tới người nghe” (5, 166). Theo Bakhtin, “chỉnh thể thể loại là chỉnh thể ngoài ngôn ngữ và do đó trung lập với ngôn ngữ. Cho nên, các thể thoại, với tư cách là những hình thức chỉnh thể (tức là hình thức đối tượng – ngữ nghĩa) là hiện tượng liên ngữ, mang tính quốc tế. Trong khi đó, các thể loại có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ, chúng đặt ra trước ngôn ngữ những nhiệm vụ cụ thể, hiện thực hoá những khả năng cụ thể trong ngôn ngữ” (5, 40).  “Khi chúng ta tổ chức lời nói của mình, bao giờ chúng ta cũng hình dung toàn bộ chỉnh thể phát ngôn của chúng ta: cả trong một hình thức sơ đồ thể loại nào đó, lẫn hình thức ý nghĩa cá nhân của lời nói” (5, 190), vì thế, “hình thức tác giả (ở chỗ khác, nó được gọi là “mặt nạ”.- V. Ch.) phụ thuộc vào thể loại phát ngôn. Đến lượt mình, thể loại chịu sự quy định của đối tượng, mục đích và tình huống phát ngôn. Ai nói và người ta nói với ai”[1].

 

Khái quát lại, có thể nói, thể loại là một sự quy ước song phương nào đó trong giao tiếp, nó có chức năng liên kết chủ thể và người tiếp nhận phát ngôn. Hiện tượng thể loại là ngôn ngữ siêu ngôn ngữ học (phương ngữ) của văn hoá. Đó là cả một hệ thống quy ước[2] truyền thống (hệ thống ước lệ của việc tổ chức văn bản) đã định hình trong quá trình lịch sử, nó cho phép chuyển tới người tiếp nhận những phát kiến [3]của tác giả (thuật ngữ tu từ học cổ điển), tức là những phát hiện “đối tượng – ngữ nghĩa”, hoặc phát minh của người nói. Nói cách khác, thể loại là loại hình phát ngôn có tính hiệu quả lịch sử, nó hiện thực hoá một số chiến lược giao tiếp nào đó của một diễn ngôn nào đó.

Đọc thêm...
 
Trần thuật học như là khoa học phân tích diễn ngôn trần thuật (V.I. Chiupa- Lã Nguyên dịch) PDF. In Email
Thứ sáu, 13 Tháng 9 2013 10:58

 

 

 

Le Parnasse, Raphael (1483–1520)

 

 

Lời dẫn: Trần thuật học như là khoa học phân tích diễn ngôn trần thuật của Giáo sư V.I. Chiupa là một giáo trình hàm súc, dễ hiểu, viết cho sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh khoa học xã hội – nhân văn. Giáo trình gồm 9 phần: 1.Từ thi pháp học đến tu từ học, 2. Chiến lược giao tiếp, 3. Phạm trù sự kiện, 4. Mẹo thuật (intrigue), 5. Cấu hình các cảnh, 6. Bức tranh thế giới, 7. Điểm nhìn, 8. Giọng, 9. Đồng nhất thể loại. Nội dung này đã được Giáo sư V.I. Chiupa trình bày tại Khoa Ngữ Văn, Đại học Sư phạm Hà Hội trong một kì thỉnh giảng vào năm 2011. Xét thấy đây là tài liệu học tập, tham khảo bổ ích, chúng tôi đã cố gắng dịch sang tiếng Việt và sẽ lần lượt giới thiệu từng phần để những ai quan tâm dễ theo dõi – ND

Trần thuật học hiện đại là lãnh địa khoa học cực kì rộng lớn, nó nghiên cứu khu vực phát ngôn (diễn ngôn) có tính truyện kể – trần thuật gắn với việc tổ chức một câu chuyện nào đó (câu chuyện, mẹo luật)[1]. Ở đây, vấn đề không giới hạn ở các văn bản nghệ thuật và thậm chí không chỉ  ở các văn bản bằng lời: nhờ sự nỗ lực của các nhà lịch sử học, triết học, văn hoá học, phạm trù tính trần thuật được áp dụng rộng rãi và có nội dung giàu tính khoa học. Đặc biệt, cần phải ghi nhận vai trò của nhà triết học Paul Ricoeur, nhà sử học Hayden White, nhà nghiên cứu văn học Wolf Schmid, những người góp phần tạo nên diện mạo hiện nay và xu hướng nghiên cứu của trần thuật học.

Khái niệm “trần thuật học” bắt đầu được sử dụng rộng rãi sau khi xuất hiện hàng loạt công trình mang tính cách tân của Roland Barthes, Claude Bremond, Tzvetan Todorov, nhất là sau khi cuốn Grammairedu Decameron của Todorov được công bố (1969), dù với tư cách là một lĩnh vực của nghiên cứu văn học, trần thuật học từng có lịch sử rất lâu đời (trong truyền thống Nga, đó là các công trình của A.N.Veselopski, V.Ja.Propp, B.V. Tomasepski, O.M. Freidenberg, M.Bakhtin, trong khu vực tiếng Đức -  O. Ludwig, K.Friedman, K. Hamburger, F.K. Stanzel, V. Kaiser, G. Müller, và khu vực tiếng Anh – P. Lubbock, N. Friedman, C. Brooks, R.P. Warren…). Tuy nhiên, đối tượng của bộ môn khoa học này và, theo đó, vị thế tri thức hiện tại của nó chưa thể nói là đã hoàn toàn được xác quyết.

Đọc thêm...
 
VẤN ĐỀ VĂN HỌC: Ngoại biên hóa trong tiến trình văn học Việt Nam đương đại (Trần Đình Sử) PDF. In Email
Thứ tư, 14 Tháng 8 2013 08:51

 

Gs Trần Đình Sử

 

1. Đặt vấn đề:

Trước thời kì Đổi mới, nước ta chỉ có độc tôn một thứ lí luận, phê bình và văn học: lí luận, phê bình văn học mác xít, văn học cách mạng. Từ ngày Đổi mới, và đặc biệt là từ thời kì hội nhập quốc tế, văn học nói chung và lí luận phê bình văn học nói riêng đã có sự đổi thay rất lớn, có thể nói nhiều mặt đã đổi thay 180 độ.

Những gì trước đây ta phê phán thì nay ta lại giới thiệu, tiếp thu. Lí luận “xét lại” của chủ nghĩa Mác phương Tây, các lí thuyết phi mác xít như chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa Freud, chủ nghĩa hiện đại, hậu hiện đại… Các tác phẩm ưu tú của lí luận phê bình văn học đô thị miền Nam trước 1975 được in lại. Những sáng tác văn học trước đây ta coi là có vấn đề tư tưởng, quan điểm, nay coi như không có vấn đề gì. Một loạt tác phẩm  xuất hiện trong thời đổi mới bị phê bình lên bờ xuống ruộng nhiều năm, số phận khác nhau, nhưng vẫn tồn tại, cộng sinh bên các tác phẩm khác. Cục diện đó cho thấy nội hàm của hai chữ Đổi mới đã biến đổi. Lúc đầu có nghĩa là từ bỏ di sản giáo điều, trở về với mác xít chân chính, sau trở về với di sản tư tưởng thời Khai sáng, rồi sau nữa, tiếp thu chủ nghĩa hiện đại và hậu hiện đại, những đối thủ phê phán mạnh mẽ truyền thống lí tính chủ nghĩa. Hai chữ Đổi mới chỉ diễn đạt nhu cầu chủ quan của chúng ta, mà chưa nói được nội dung, xu thế cụ thể, khách quan của tiến trình văn học đương đại. Xu thế đó có thể gọi là ngoại biên hóa. Nếu gọi lí luận phê bình theo quan điểm mác xít là diễn ngôn trung tâm, thì các lí thuyết khác là diễn ngôn ngoại biên. Tiến trình lí luận phê bình và văn học hôm nay đang ngoại biên hóa với hai nội dung: một là điều chỉnh, nới rộng nội dung lí luận văn học mác xít và hai là tiếp nhận các diễn ngôn phi mác xít. Lí luận phê bình mác xít vẫn có vai trò chủ lưu, nhưng sự độc tôn không còn, đó là một tiến bộ cực kì to lớn của lí luận phê bình văn học hôm nay.

Đọc thêm...
 
«Bắt đầuLùi12345678910Tiếp theoCuối»

Trang 8 trong tổng số 15

THÔNG TIN HOẠT ĐỘNG

VĨNH BIỆT PHÓ GIÁO SƯ, NHÀ GIÁO ƯU TÚ NGUYỄN NGUYÊN TRỨ

VĨNH BIỆT PHÓ GIÁO SƯ, NHÀ GIÁO ƯU TÚ NGUYỄN NGUYÊN TRỨ Bùi Mạnh Nhị Biết Phó Giáo sư, Nhà giáo Ưu tú Nguyễn Nguyên Trứ bị bệnh đã lâu ngày nhưng tin...

THÔNG BÁO TUYỂN DỤNG GIÁO VIÊN THỈNH GIẢNG BỘ MÔN TIẾNG VIỆT - KHỐI TRUNG HỌC (LẦN 2)

THÔNG BÁO TUYỂN DỤNG GIÁO VIÊN THỈNH GIẢNG BỘ MÔN TIẾNG VIỆT - KHỐI TRUNG HỌC (LẦN 2) Nhằm thực hiện  chương trình giảng  dạy  của năm học 2019,  nhà...
 

Học vụ

TÌNH HÌNH BẢO VỆ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CỦA SINH VIÊN HỆ CHÍNH QUY NĂM 2009 (2)

Từ ngày 18/5 đến 26/5/2009, Khoa Ngữ văn đã tổ chức hội đồng bảo vệ luận văn cho 28 sinh viên năm thứ tư. Các luận văn đều được đánh giá tốt, trong...

TÌNH HÌNH BẢO VỆ LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC CỦA SINH VIÊN HỆ CHÍNH QUY NĂM 2009 (1)

Từ ngày 18/5 đến 26/5/2009, Khoa Ngữ văn đã tổ chức hội đồng bảo vệ luận văn cho 28 sinh viên năm thứ tư. Các luận văn đều được đánh giá tốt, trong...
 

Đoàn TN - Hội SV

THÔNG BÁO VỀ HỘI THI NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CỦA SINH VIÊN KHOA NGỮ VĂN TRƯỜNG ĐHSP TP. HCM NĂM HỌC 2008 - 2009

1/ Mục đích ý nghĩa: Trường ĐHSP là trường có nhiệm vụ hướng nghiệp dạy nghề rất rõ ràng. Đồng thời với việc được trang bị kiến thức về khoa...

 BÀI MỚI NHẤT